• Đang truy cập: 10
  • Hôm nay: 1249
  • Trong tuần: 11 085
  • Tháng hiện tại: 31 911
  • Tổng lượt truy cập: 659263
Đăng nhập
Khắc phục bệnh vàng lá lúa do ngộ độc hữu cơ (bệnh nghẹt rễ)
Lượt xem: 847

1. Tác hại của bệnh

Cây lúa đẻ nhánh kém hoặc không đẻ nhánh. Nếu bệnh gây hại trong thời gian dài mà không có biện pháp xử lý làm lụi toàn bộ diện tích lúa.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Đây là bệnh sinh lý do bộ rễ thiếu oxy. Cây lúa có khả năng phục hồi tốt khi áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng, trừ bệnh.

- Do đặc điểm của thời vụ, sau khi thu hoạch lúa ở vụ xuân, bà con gấp rút làm đất, gieo cấy lúa ở vụ mùa. Xử lý rơm rạ không được. Dẫn đến rơm rạ cày vùi trong điều kiện ngập nước, làm đất, trồng lúa ngay. Sự phân hủy rơm rạ từ vụ trước sẽ sản sinh độc chất hữu cơ, ảnh hưởng xấu đến quá trình hô hấp và hút dinh dưỡng cho cây. Đặc biệt tổn thương đến bộ rễ. 

- Do đất thiếu oxi, gây tình trạng yếm khí ức chế sự hô hấp của rễ lúa.

- Ruộng chua, trũng bà con ít bón vôi để cải tạo đất. Hoặc do bón phân NPK không cân đối đặc biệt bón thừa đạm nhiều.

- Hiện tượng này cũng thường xảy ra khi bón nhiều phân hữu cơ chưa hoai mục, đất ruộng có thành phần cơ giới nặng, đất không được phơi ải, đất ngập nước thường xuyên, đất còn lẫn rơm rạ chưa phân hủy …

3. Các triệu chứng nhận biết bệnh

Triệu trứng ban đầu là ngọn lá lúa chuyển màu vàng đỏ, khô từ chóp lá lan dần xuống dưới. Nếu bệnh nặng nhiều lá phía trên bị vàng đỏ đến 1/3 lá.

Khi nhổ khóm lúa lên thấy bộ rễ thối đen, có mùi tanh hôi, rễ mới không phát sinh, cây lúa ngừng sinh trưởng hoặc đẻ nhánh ít. Hiện tượng này xảy ra chủ yếu ở giai đoạn sau cấy - đẻ nhánh rộ.

Lúa bị ngộ độc hữu cơ có biểu hiện phần ngọn lá màu vàng đỏ

 

4. Điều kiện phát sinh, phát triển

Bệnh phát sinh gây hại trong cả vụ Xuân và vụ Mùa:

- Rơm rạ, tàn dư hợp chất hữu cơ chưa kịp phân hủy. Thường là do nông dân sản xuất liên tục trên một thửa ruộng, rơm rạ của vụ trước bị vùi trong đất phân hủy trong điều kiện yếm khí tiết ra các chất độc gây hại cho lúa vụ sau (các chất độc hữu cơ đó là phenolic, hydro sulfic, khí metan, các axit hữu cơ làm tăng độ chua của đất).

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ Xuân chủ yếu trong điều kiện thời tiết lạnh; Cấy trên các chân ruộng trũng, cày bừa chưa kỹ; Cấy mạ già, cấy sâu tay.

- Bệnh xuất hiện và gây hại trong vụ Mùa chủ yếu trong điều kiện chuyển vụ rất nhanh giữa vụ Xuân và vụ Mùa nên quá trình phân hủy gốc rạ sinh ra các axít hữu cơ và khí độc, gây tác động xấu đến sự hô hấp của bộ rễ.

5. Biện pháp phòng trừ

- Biện pháp phòng:

Xử lý rơm rạ, sản phẩm phụ sau thu hoạch bằng các chế phẩm Trichodecma, CNX, AT-YTB, Sumitri, Fito-Biomix RR,... Thời gian tiến hành trước khi cày ngả (đối với ruộng chủ động tưới tiêu) hoặc trước khi bừa giập (đối với ruộng ngập nước). Liều lượng sử dụng, cách sử dụng xem hướng dẫn trên bao bì sản phẩm hoặc hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.

- Biện pháp trừ:

+ Bước 1: Khi phát hiện lúa bị bệnh vàng lá cần ngừng ngay việc bón phân đạm, phân NPK hoặc các loại phân bón lá.

+ Bước 2: Rút nước ra khỏi ruộng để khô 2-3 ngày (nứt chân chim), sau đó đưa nước trở lại ruộng. Đối với những ruộng không rút được nước, tiến hành cào sục bùn.

+ Bước 3: Bón bổ sung phân lân Văn Điển (8-10 kg/360m2) hoặc phân chuồng hoai mục (20-30 kg/360m2). Có thể bón bổ sung thêm phân bón qua lá (ưu tiên các loại phân có hàm lượng các nguyên tố vi lượng cao như Atonik 1.8SL, Poly-feed, Humic, K-humate, TS96, Seewead...)

+ Bước 4: Sau khi xử lý 7-10 ngày, nhổ khóm lúa lên thấy rễ trắng mới ra, tiến hành bón thúc và chăm sóc bình thường.

 

Đàm Thị Thiều - ST
Thông tin mới nhất
ipv6 ready